Showing posts with label VĂN. Show all posts
Showing posts with label VĂN. Show all posts

Saturday, January 29, 2022

 Bài hát Ngày Em Về của Thanh Trang 

và 
một “học trò” cũ của tôi.

Qua FaceBook, tôi gặp được một học-sinh của miền đất hiền-hòa nhưng khá nỗi tiếng bên bờ Hậu Giang, thuộc Vĩnh-Long, nơi mà tôi thường nói thuộc về “Góc nhớ vùng bưỡi Năm Roi” của tôi.
Được biết em là bạn của một nhóm học-sinh thuộc một lớp học tại trường trung-học sở-tại mà tôi có dạy qua, nhưng em không học với tôi vì ngay năm tôi phụ-trách lớp thì em chuyển trường. Dù vậy, em vẫn gọi tôi là thầy. (Vì lẽ đó tôi viết “học-trò” giữa hai ngoặc kép. Cám ơn em và thầy vẫn xem em như bao nhiêu học-sinh thân-mến khác mà thầy hân-hạnh đã hướng-dẩn trong đời).
Từ một kỷ-niệm của tôi với một đồng-nghiệp thân-thiết về ca khúc Đường Chân Trời (Anh Việt Thu), câu chuyện trao đổi cùng em đã dẩn dắt tôi đến bài hát Ngày Em Về (Thanh Trang). Một điều bất-ngờ thú-vị là nhạc-sĩ Thanh Trang đã chọn em trình-bày bản Ngày Em Về; xin trích một đọan văn nói về bản nhạc này của nhạc-sĩ:

............
Bài hát “Ngày em về“ tôi viết đã vài ba năm nay nhưng vẫn còn phải chờ một giọng ca miền Nam nào đấy, giọng nữ, cho thật là hồn nhiên, dân dã, như cỏ cây ngoài trời ngoài đất vậy! Một giọng ca nữ thuộc diện “chuyên nghiệp” từ chốn thành thị mà hát bài này thì tôi độ chừng là hát qua thì dễ tạo nơi tôi cảm giác như khi đọc câu thơ Nguyễn Bính khi xưa:
“Hôm qua em đi Tỉnh về“
“Hương đồng cỏ nội bay đi rất nhiều”
(Tuy tôi chẳng mấy khoái hai chữ “bay đi” ở câu sau vì nó không đúng vận! Nguyễn Bính là dân Bắc Kỳ, gốc Hưng Yên, mà ngày đó sao chẳng chịu viết:
“Hôm qua em đi Tỉnh về
“Hương đồng cỏ nội dinh tê rất nhiều“?
Kim Tuyết là một cô gái miền Nam, quê ở Vĩnh Long. Cũng là nơi mà tôi chẳng mấy xa lạ vì Bà Ngoại và một ông Cậu của tôi, (gốc miền Trung nhưng đều đã qua đời), xưa kia sinh sống ở Trà Vinh (Vĩnh Bình), tức từ Sài Gòn xuống phải qua đất Vĩnh Long cái đã! Kim Tuyết sinh sống ở Vĩnh Long nhưng lại đọc đuợc những gì nơi trang “Cỏ Thơm” này qua Internet!
Một ngày mới đây cô ấy liên lạc bằng e-mail với tôi và viết về khá nhiều thiện cảm của cô đối với mục “Nhạc” nơi trang này! “Chuyện trò” qua lại dăm ba phen qua e-mail thì tôi mới hay là cô ấy rất thích ca hát để giải trí; nhưng điều khiến tôi đặc biệt chú ý là cô ấy nói biết ca Vọng Cổ! Ôi Giời! Nghe vậy thì tôi sực nhớ ngay đến bài hát “Ngày em về“ của mình!  
“Ngày em về“
“Ngày em nơi xa về thăm xóm quê”
“Lúa thơm trên đồng lúa (lên) ghe theo cùng về“
“Đầu thôn trăng cài trên khóm tre”
“Em đi bao nguời nhớ, em về thôn xóm vui !”
“Cây vuờn, màu lá xanh tươi”
“Chiều êm sóng vỗ bồi hồi bờ nuớc xa !”
“Trăng soi lên mái tranh nhà”
“Sông xưa bến cũ mặn mà tình quê em !”
Tất cả những gì nơi lời bài hát đều phát xuất từ mớ kỷ niệm của tôi với mảnh đất miền Nam, từ vùng Đồng Nai đến xuống tút mút tận mũi Cà Mau! Tiếng sóng nơi câu: “Chiều êm sóng vỗ bồi hồi bờ nuớc xa” là tiếng sóng tôi từng nghe từ con sông Đồng Nai cho đến con sông Hàm Luông với không biết bao nhiêu là nhánh sông khác, chằng chịt trên dải đất miền Nam! Như đã từng đề cập đến nhiều phen ở mục “Nhạc” này trên Cỏ Thơm: Tôi hiếm khi viết bài hát từ hư cấu!

Thanh Trang (Nam Cali, cuối Thu 2010)



Mời thưởng-thức Ngày Em Về, Kim Tuyết trình bày, xin bấm vào:



Anh Tú
November 4, 2015

Trích từ:

Wednesday, January 26, 2022

 

Hồi ức 1
Tác giả


TÌM VỀ KỶ NIỆM:

THỜI TIỂU HỌC

Từ những ngày mới bắt đầu đi học, tôi đã được ba dắt vào trường và xin cho tôi được vào lớp Năm tức là lớp Một bây giờ.
Trường tiểu học lớn nhất trong quận này có đầy đủ cấp lớp từ lớp Năm tới lớp Nhất chứ không như trường làng ba tôi dạy chỉ có tới lớp Ba. Thầy Phan Thông Hỷ lúc đó là hiệu trưởng, đa số Thầy Cô đều từ Cần Thơ qua dạy, cũng có nhiều Thầy Cô nhà tại địa phương.
Năm đó tôi vừa đủ sáu tuổi theo giấy khai sinh nhưng thật ra tôi đã bảy tuổi rồi, do tôi sinh gần cuối năm nên ba làm khai sanh nhỏ lại một tuổi để tôi đủ sức đi học cùng các bạn ở một ngôi trường nằm trong chợ và có tầm cỡ trong quận.
Suốt những năm ở cấp tiểu học tôi đã trải qua tuổi thơ với nhiều vui buồn, với nhiều thăng trầm của cuộc sống ảnh hưởng rất lớn cuộc đời tôi.
Năm lớp Năm tôi được học Thầy Tuôi, Thấy Lê Văn Tuôi, Thầy Cô trong trường hay gọi là Thầy Chín Tuôi. Nhà Thấy bên Cần Thơ hằng ngày đạp xe qua dạy. Năm sau lên lớp Tư tôi được học một Thầy nữa là Thầy Ngô Văn Hai, hay được gọi là Thầy Hai Bụng. Hai người Thầy của tôi đều lớn tuổi, Thầy Hai tóc bạc phơ, cả hai Thầy đều mất vì bệnh. Thầy Hai mất trong mùa hè khi tôi hết lớp Tư, còn Thầy Chín thì cũng mất nhưng không nhớ năm nào. Qua Năm lớp Ba tôi được học cô Dung, cô Lâm Kim Dung, cô có dáng đẹp mảnh mai, da trắng nhưng cô có một ngón tay bị co lại nên bọn học trò thường gọi lén là cô Dung Cùi. Lên lớp Nhì tôi học cô giáo Ảnh, cô tên Đồng Ngọc Ảnh, nổi tiếng là dạy giỏi và cũng nổi tiếng nghiêm khắc, đánh đòn học trò rất dữ. Tôi nghe cũng sợ nhưng cứ tự tin, mình học tốt và ngoan thì sẽ không bị đòn. Thật vậy, suốt năm học với cô tôi không hề bị roi nào hay bị phạt vì không thuộc bài.
Hết bốn năm học êm ái trôi qua nhanh chóng. Khi tôi sắp sửa bước sang năm lớp Nhất là năm cuối cấp quan trọng thì một biến cố đến với gia đình, ba tôi đột ngột qua đời bỏ lại ông bà nội già và mẹ tôi cùng đàn con sáu đứa mà tôi là chị cả. Nỗi lo tan tác không biết còn được đi học nữa hay không vì ông nội tôi do buồn rầu mất đi người con duy nhất ông cũng qua đời sau ba tôi đúng 70 ngày. Má tôi nén đau thương quyết chí chịu cực khổ cho chị em tôi được tiếp tục đi học vì ba tôi là thầy giáo làng hay nói hồi xưa ở quê học ít nên giờ làm gì cũng cho con cái ăn học tới nơi tới chốn.
Năm học lớp Nhất tôi học cô Ánh, tên cô là Huỳnh Kim Ánh, tôi cố gắng hết sức để thi vào lớp Đệ Thất đầu cấp Trung học, hồi đó thi rất khó, có thi là có đậu có rớt. Tỉ lệ năm tôi thì là một chọi ba, vừa lo học thi vừa buồn nhớ ba vô cùng. May mắn năm đó tôi thi đậu vào lớp Đệ Thất, có 150 học sinh đậu chính thức gồm 2 lớp Anh Văn, A1 toàn con trai và A2 toàn con gái và 1 lớp Pháp Văn. Tôi đậu hạng 57 không cao nhưng đậu là mừng lắm rồi. Sau đó nhà trường quyết định mở thêm một lớp Pháp Văn nữa nên có hai lớp Pháp Văn P1 và P2.
Tôi chính thức bước vào Trung học, điều mà những ai được đi học vẫn hằng mong ước và hãnh diện, nó quan trọng như bây giờ được vào đại học vậy. Những đứa học chung thời tiểu học có đứa cũng tiếp tục học trên trung học, tới nay vẫn còn nhớ tên và vẫn còn liên hệ. Nhiều kỷ niệm cũng rất khó quên.
Suốt những năm học tiểu học tôi vẫn còn nhớ nhiều Thầy Cô và bạn bè. Nhớ như in cái cổng trường, cổng trước và cổng sau, đường đi tắt phía sau nhà chú Tư Dưỡng chuyên đánh trống và làm bảo vệ. Nhớ Dì Năm bán nước đá bào xi rô, nhớ hai má con Dì Hoa bán bánh mì ngoài cổng sau mà tôi chỉ ăn bánh mì chan nước cho ít tiền hơn ăn bánh mì thịt. Để dành tiền mua thiệp chúc xuân, mua bài ca vọng cổ... Ấy vậy mà có lần do sơ ý lúc xếp hàng vào lớp tôi đụng phải một bạn làm rơi ổ bánh mì mà bạn cầm trên tay, tôi phải đền cho bạn ấy và bạn chỉ lấy phân nửa số tiền mua ổ bánh mì thịt. Lâu lắm không gặp bạn chắc bạn ấy không nhớ đâu. Nhưng hôm rồi hay tin bạn đã ra đi vì nhiễm phải con virut quái ác trong đại dịch năm nay, thật là buồn!
Tôi bước vào ngưỡng cửa Trung học với chiếc áo dài xúng xính được người quen tặng vải và người mợ may dùm, chỉ bằng vải ka tê trắng thôi mà đã là hàng đẹp để may áo dài thời đó. Cái áo dài theo tôi suốt 12 năm học với bao niềm yêu mến.
Trường Trung học Bình Minh được chính thức thành lập từ năm 1962 và học ghép với trường tiểu học cũng do Thầy Phan Thông Hỷ làm hiệu trưởng, lúc đó Thầy có chức danh là Thanh tra kiêm Hiệu Trưởng, đối với giáo viên và học sinh là một chức vụ rất oai. Đối với dân địa phương là một chức danh rất uy tín, và lđược kính trọng. Tới năm 1968 tôi vào học lớp Đệ Thất thì Thầy Phạm Hồng Thanh được chính thức bổ nhiệm làm hiệu trưởng, còn 4 lớp của chúng tôi học tạm trong khuôn viên trường tiểu học, các lớp anh chị thì học tại khu Tầm Tang đang xây thành trường Trung học Bình Mình sau này.

Lê Kim Tuyết.

Thursday, January 13, 2022

 


SƠ LƯỢC TIỂU SỬ TRƯỜNG TRUNG HỌC BÌNH MINH VĨNH LONG*

Sự thành lập trường:

Trước năm 1962, Quận Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long chưa có trường Trung học. Học sinh tốt nghiệp Tiểu học phải sang Cần Thơ (lúc bấy giờ là tỉnh Phong Dinh) để thi tuyển vào lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ) của Trường Trung học Phan Thanh Giản hoặc phải lên tỉnh Vĩnh Long để thi tuyển vào lớp Đệ Thất của Trường Trung học Tống Phước Hiệp. 

Tạo thuận tiện cho phụ huynh lẫn học sinh tốt nghiệp Tiểu học của quận Bình Minh, Thầy Phan Thông Hỷ (Thanh tra Tiểu học quận Bình Minh) đã xin với Nha Trung học ở Sài Gòn cho phép mở trường Trung học tại quận nhà. Kế hoạch là mở một lớp Đệ Thất, mượn phòng của trường Tiểu học Cái Vồn, văn phòng thì chung với văn phòng Thanh tra của Thầy và sẽ mở rộng từ từ. Thầy dự kiến trường trung học Bình Minh có thể là Chi nhánh của trường Trung học Tống Phước Hiệp cũng được.

Nha Trung học ở Sài Gòn chấp nhận đơn xin mở trường của Thầy Phan Thông Hỷ với yêu cầu là sau 5 năm phải có đất để xây dựng trường và đặt tên trường là Trường Trung học Bình Minh, Vĩnh Long.

Kỳ thi tuyển một lớp Đệ thất đầu tiên thuộc niên khóa 1962-1963.

Niên khóa 1962-1963 Đệ thất đầu tiên này tuyển 50 học sinh trên tổng số hàng trăm học sinh dự thi. Sinh ngữ chính là Pháp văn.

Ban Giáo sư gồm: 

1. Thầy Phan Thông Hỷ Hiệu trưởng

2. Thầy Phan Trung Chánh

3. Thầy Nguyễn Quang Văn

4. Thầy Lương Vinh Xuân

5. Cô Nguyễn Thị Cậy

6. Thầy Nguyễn Xuân Cảnh

7. Cô Lâm Thị Kiều Tiên

8. Cô Nguyễn Thị Sáu

9. Thầy Nguyễn Bá Thảo

10. Cô Nguyễn Thị Thanh Huê

11. Thầy Nguyễn Văn Trứ Thư ký – Kế toán

Niên khóa 1963-1964: 

-Một Đệ thất

-Một Đệ Lục

Niên khóa 1964-1965 

-Một Đệ thất

-Một Đệ Lục

-Một Đệ ngũ

-Năm 1965, thầy Phan Thông Hỷ đã được Quận trưởng Bình Minh giao cho khu Tầm tang (nay là trường Trung học cơ sở Cái Vồn) để tu sửa lại làm trường Trung Học Bình Minh.

 Niên khóa 1965-1966:

-Có hai lớp Đệ thất-Sinh ngữ chính Pháp văn với 100 học sinh.

-Một Đệ Lục- Sinh ngữ chính Pháp Văn

-Một Đệ Ngũ-PV

-Một Đệ Tứ-PV

-Thầy Phạm Hồng Thanh được bổ nhiệm về làm Hiệu trưởng trường Trung học Bình Minh (thay thế thầy Phan Thông Hỷ).

Niên khóa 1966-1967 

-Có ba lớp Đệ thất với 150 học sinh. Hai lớp có sinh ngữ chính là Pháp văn và một lớp có sinh ngữ chính là Anh văn. 

-Hai lớp Đệ Lục-PV

-Một Đệ ngũ-PV

-Một Đệ Tứ-PV

-Học sinh lên lớp Đệ tam (lớp 10 bây giờ) được chuyển sang trường Trung học Phan Thanh Giản và trường Trung học Đoàn Thị Điểm thuộc tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ) để học tiếp.

-Giữa niên khóa 1966-1967 trường Trung học Bình Minh được dời từ trường Tiểu học Cái Vồn ra khu Tầm tang. Thầy , Cô và Học sinh đã lắp mương, lắp ao để xây dựng thêm phòng học tại khu tầm tang này.

 Niên khóa 1967-1968 

-Ba lớp Đệ thất mới: 2 Đệ thất PV, một Đệ thất AV

-Ba lớp Đệ Lục: 2 PV, 1AV

-Hai Đệ ngũ PV

-Một đệ tứ PV

-Một Đệ tam PV

Sự mở thêm một lớp Đệ tam tại trường là dấu hiệu đầu tiên của trường chuyển sang đệ nhị cấp (là lớp đệ tam, đệ nhị, đệ nhất tức lớp 10;11;12 bây giờ).

 Nk 1968-1969: Tiếp tục tuyển học sinh vào Đệ thất cộng thêm các lớp đã có.

-Ba lớp đệ thất mới

-Ba lớp Đệ Lục mới: 2 PV, một AV

-Ba lớp Đệ ngũ: 2 PV, 1AV

-Hai Đệ Tứ PV

-Một đệ tam PV

-Một Đệ nhị PV

-Niên khóa 1969-1970 

-Trung học Bình Minh tuyển sinh vào bảy lớp Đệ thất nữa với 350 học sinh trên tổng số cả nghìn học sinh dự thi. Hai lớp có sinh ngữ chính là Pháp văn và năm lớp có sinh ngữ chính là Anh văn. 

-Thầy Nguyễn Văn Khoa làm hiệu trưởng (thay thầy Phạm Hồng Thanh)

Niên khoá 1973– 1975: 

-Trường đã khá khang trang với phòng ốc mới xây dựng, có hàng rào xung quanh, cổng trường xinh đẹp. Có hằng trăm nhân sự cho Ban giám hiệu, ban giáo sư, ban giám thị và hàng ngàn học sinh các lớp, từ lớp 6 <đệ thất> đến lớp 12 <đệ nhất>

-Thầy Nguyễn Hồng Ẩn nhận chức Hiệu trưởng thay thầy Nguyễn Văn Khoa.

Tháng 4 năm 1975 đã khai tử tên trường Trung Học Bình Minh 

-Trường đã được thay tên khác.

-Sau đó 3 tháng với nhiệm vụ Trưởng Ban Điều Hành trong giai đoạn chuyển giao trường cho chánh quyền mới, thầy Nguyễn Hồng Ẩn rời trường.

-------

Sau đây là danh sách các Hiệu trưởng của trường đã đổi tên qua và niên khóa tiếp theo:

1975 – 1976: Nguyễn Minh Tuấn

1976 – 1978: Nguyễn Thị Biên

1978 – 1979: 

-Không có Hiệu trưởng

-Có 3 Hiệu phó lãnh đạo: Nguyễn Trước Lâm< Thường trực>, Nguyễn Thị Kiều Trinh, Huỳnh Ngọc Đường

1979 – 1989: Trần Hữu Phước

*Bài viết từ nhiều nguồn, có tính cách tham khảo, mong được nhiều đóng góp bổ túc, chỉnh sửa.

Sưu tầm